SCP-4220 : Vùng Tối Của Chị Hằng

Information

SCP-4220 (khoảng năm 1991).

Các Cá nhân Chủ chốt: Aleister Crowley, Jack Parsons, và L. Ron Hubbard, từ trái qua phải (theo như tài liệu lưu trữ của GOC, vào khoảng năm 1947)

Name: Vùng Tối Của Chị Hằng
Author: Irina Bougainvillea
Rating: 10/10
Created at: Sun Nov 21 2021

  • NỘI DUNG NGƯỜI LỚN

    Tác phẩm này có chứa nội dung người lớn, có thể không phù hợp với một số độc giả.

    Miêu tả về máu, yếu tố ghê rợn hoặc phân tách bộ phận cơ thể
    Có chủ đề hoặc ngôn ngữ khiêu gợi, không miêu tả quan hệ tình dục.
    Miêu tả quan hệ tình dục.
    Có yếu tố quan hệ tình dục cưỡng ép.
    Có yếu tố ngược đãi trẻ em.
    Có yếu tố tự gây hại cho bản thân.
    Có yếu tố tự vẫn.
    Có yếu tố tra tấn.
    {$custom-content}

    Nếu bạn hơn 18 tuổi và mong muốn đọc các nội dung trên, vui lòng bấm Truy Cập để nhận quyền hạn truy cập nội dung.

    Truy Cập

    Quay về trang chính

    « scp-4219 |SCP-4220| scp-4221 »

NỘI DUNG NGƯỜI LỚN

Nếu bạn hơn 18 tuổi và mong muốn đọc các nội dung trên, vui lòng bấm Truy Cập để nhận quyền hạn truy cập nội dung.

CẢNH BÁO: TỆP TIN DƯỚI ĐÂY CÓ CẤP ĐỘ BẢO MẬT 4/4220

MỌI HÀNH VI CỐ GẮNG TRUY CẬP TỆP TIN NÀY MÀ KHÔNG CÓ QUYỀN HẠN AN NINH CẤP ĐỘ 4/4220 SẼ ĐƯỢC GHI LẠI VÀ XỬ LÝ KỶ LUẬT NGAY LẬP TỨC.
Quy trình Quản thúc Đặc biệt: Nhân sự Tổ Chức cần giữ liên lạc với UNOOSA1 cũng như các chính phủ, các tập đoàn lớn và các tổ chức học thuật khác đang tiến hành quan sát, khám phá và khai thác SCP-4220. Các điều kiện sau cần được tuân thủ theo như Giao thức EYES WIDE SHUT:

  • Cần mở rộng và duy trì chặt chẽ hiệu lực của các luật quốc tế giới hạn việc khai thác tài nguyên phục vụ mục đích thương mại, khám phá hay chiếm đóng bề mặt SCP-4220.
  • Cần đình chỉ tiến hành hoặc làm giả thông tin về việc nghiên cứu địa chấn học với đối tượng là cấu trúc bên trong của SCP-4220; những nghiên cứu liên quan tới các hang động dung nham cần được ngăn chặn tối đa trong khả năng cho phép.
  • Các nhiệm vụ tại SCP-4220 nằm ngoài phạm vi do Tổ Chức quản lý cần được giới hạn chặt chẽ trong phạm vi thu thập mẫu đất đá trên bề mặt. Nhân sự Tổ Chức cần làm việc với các bên liên quan để ngăn chặn việc khai thác ở độ sâu trên mười mét tính từ bề mặt dị thể hoặc xâm nhập vào SCP-4220-2.
  • Mọi nhiệm vụ có khả năng đi qua hoặc tiếp cận mặt tối của SCP-4220 cần phải được các lực lượng thuộc Tổ Chức giám sát. Mọi dữ liệu liên quan tới SCP-4220-2 (bao gồm nhưng không giới hạn ở: Ảnh chụp, kết quả phân tích bằng bức xạ kế, và ảnh chụp tầm nhiệt) cần được đình chỉ phát tán hoặc làm giả.
  • Sự thống nhất quan điểm về mặt khoa học liên quan tới cấu tạo bên trong của SCP-4220 cần phải được duy trì.

Mọi thông tin về cấu trúc bên trong của SCP-4220 cần được bảo mật cho tới khi có thông báo tiếp theo. Hố khoan dẫn vào bên trong SCP-4220-1 đã bị lấp kín. Việc tiếp cận cấu trúc này đã bị cấm hoàn toàn.
Mô tả: SCP-4220 là mã định danh được gán cho Mặt Trăng của Trái Đất. Theo như quan điểm thống nhất dựa trên cơ sở khoa học hiện tại, Mặt Trăng có mật độ vật chất lớn thứ hai trong số các vệ tinh của những hành tinh thuộc hệ Mặt Trời; cấu trúc bên trong của thiên thể này gồm có lớp vỏ, lớp phủ và lớp lõi tách biệt rõ ràng. Thực tế, thông tin trên là không chính xác: Một nhiệm vụ nghiên cứu được thực hiện năm 19██ do Tổ Chức cung cấp kinh phí đã đem lại kết quả rằng bên trong Mặt Trăng là một không gian rỗng. Dù vậy, lực hấp dẫn mà SCP-4220 tạo ra mạnh hơn nhiều so với lực hấp dẫn được ước tính của một vật có khối lượng tương đương với nó.

Lớp vỏ của Mặt Trăng có độ dày trung bình khoảng sáu kilômét; chống đỡ bên dưới lớp vỏ này là một cấu trúc phức tạp không rõ nguồn gốc. Cấu trúc này được tạo thành từ bê tông, đá bazan và sắt sắp xếp thành dạng lưới lục giác. Việc tiếp cận cấu trúc này có thể được thực hiện bằng cách đi xuống một hố khoan nhân tạo có bán kính khoảng một mét và độ sâu khoảng năm mươi mét tại vùng trũng Nam Cực-Aitken (hố va chạm lớn nhất đã được phát hiện trên bề mặt Mặt Trăng). Ở đáy của lối vào này có một cửa sập, với một bảng tên bằng kim loại được đóng đinh bên trên; trên bảng tên có khắc dòng chữ "PHÒNG BAN DỊ TƯỢNG".

Cửa sập này dẫn vào bên trong một khoang cơ khí kín khí; bên dưới khoang này là một phức hợp cấu trúc ngầm được gán mã định danh SCP-4220-1. Phức hợp này là một kho silo bán công nghiệp cấu tạo hoàn toàn từ hợp kim đồng-beryllium, có bán kính và độ sâu khoảng một nửa kilômét, và bao gồm một trăm tầng (các tầng được ngăn cách với nhau bởi một cầu thang xoắn ốc ở trung tâm kho silo). Mỗi tầng của phức hợp bao gồm nhiều dãy ô không gian làm việc có vách ngăn được đặt nối tiếp nhau; các dãy ô này được sắp xếp thành họa tiết dạng xoắn tỏa ra từ cầu thang. Cầu thang của phức hợp được xây dựng bao quanh một ống rỗng lớn (bán kính một mét) nối liền với trần nhà tầng cao nhất, và kéo dài từ trên xuống dưới qua tất cả các tầng.

Bên trong mỗi ngăn của phức hợp này là một bàn làm việc, với một máy đánh chữ bằng đồng thau được đặt bên trên; các ống rỗng đã thay thế vị trí của các ruy băng mực ở những máy đánh chữ này. Những ống rỗng này được nối lại với nhau trên trần của các tầng để tạo thành một họa tiết xoắn; họa tiết xoắn này hội tụ lại và nối liền với ống khí ở cầu thang trung tâm. Mỗi máy đánh chữ đều được nối với một đôi bàn tay cơ khí bằng đồng thau thông qua các ống rỗng, và dưới chân mỗi bàn làm việc đều có một đôi giày đồng thau. Những bàn tay này luôn đánh chữ liên tục, và chỉ dừng lại khi có hai đôi giày rời khỏi ô làm việc của chúng và đổi chỗ cho nhau. Một số máy đánh chữ ở các tầng đã bị hư hại hoặc hoàn toàn không hoạt động được — đôi bàn tay và đôi giày tương ứng với chúng đều ở trong trạng thái bất động.

Diện tích của kho silo này thu hẹp mạnh ở đầu dưới của cầu thang, và ở cuối cầu thang là một ban công tròn bao quanh ống dẫn trung tâm. Ống dẫn này tiếp tục kéo dài xuống dưới với bán kính khoảng một mét và độ sâu chưa xác định; lấp kín miệng ống dẫn là một hỗn hợp bao gồm đất đá Mặt Trăng và xi măng. Một bảng hiển thị số cơ khí đã được gắn vào ống dẫn này ở độ cao ngang bằng với ban công; trên bảng có ghi "MỨC ĐỘ TẠP NHIỄM". Kể từ khi việc quản thúc SCP-4220-1 bắt đầu được tiến hành, chỉ số trên bảng đã tăng từ 75 lên 85 (với mức tối đa là 100). Ý nghĩa và đơn vị đo của chỉ số này hiện vẫn chưa rõ.

SCP-4220-2 là nửa tối của Mặt Trăng.

[DỮ LIỆU BỊ GIẤU - YÊU CẦU QUYỀN TRUY CẬP AN NINH CẤP 5]

Phụ lục 4220.1: Tóm tắt Các sự kiện Lịch sử

Tính tới năm 1960, cả Hoa Kỳ và Liên Xô đều đã xác định rõ rằng việc thường dân có được hiểu biết về SCP-4220 sẽ là một mối hiểm họa đối với trạng thái bình thường ở quốc gia của họ. Dù vậy, do bản chất của Cuộc Chạy đua vào Vũ trụ, cả hai bên đều không thể đình chỉ kế hoạch đưa con người lên Mặt Trăng mà không gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng lên tình hình văn hóa — xã hội, cũng như không phải hứng chịu những thất bại chính trị. Trong khoảng thời gian này, xét ở mức độ công khai, cả hai quốc gia nói trên đều đã chạy đua với nhau bằng công nghệ không dị thường để đạt được mục tiêu này.

Tuy nhiên, các nhà khoa học Hoa Kỳ và Liên Xô cũng đồng thời tham gia một Cuộc Chạy đua vào Vũ trụ thứ hai trong bí mật — cuộc chạy đua này được tiến hành thông qua việc sử dụng cơ sở vật chất và công nghệ dị thường. Mục tiêu của cuộc đua này là tiếp cận Mặt Trăng trong bí mật, tìm hiểu bản chất thực sự của nó, và xác định liệu nó có thể được vũ khí hóa hay không.

Khả năng cao kế hoạch của Liên bang Xô Viết đã giúp tạo dựng nên SCP-4220-2 từ các thành phần của nó, và kế hoạch của Hoa Kỳ đã vô tình cung cấp tài nguyên nhằm thúc đẩy sự hình thành của SCP-4220-2.

Phụ lục 4220.2: Helios

Khi được biết thông tin về kế hoạch Luna của Liên bang Xô Viết do những công dân đào tẩu khỏi quốc gia này tiết lộ, Tổng thống Hoa Kỳ đương nhiệm John F. Kennedy — người trước đây đã từ chối việc sử dụng dị thể trong Cuộc Chạy đua vào Vũ trụ — đã miễn cưỡng chấp thuận việc thành lập một dự án bí mật với mật danh Helios2. Mục tiêu của dự án Helios là xác định bản chất của các cấu trúc nhân tạo trên Mặt Trăng và chiếm quyền kiểm soát chúng trước Liên bang Xô Viết. Do Liên Xô khi đó đang thắng thế trong Cuộc đua Vũ trụ, Kennedy đã cho phép Pentagram3 nắm quyền điều hành dự án dưới sự chỉ đạo của cố nhân sự John Whiteside "Jack" Parsons4.

Dự án Helios đã dẫn đến thành quả là tên lửa đẩy sử dụng năng lượng hạt nhân mang tên Helios 1 được xây dựng và phóng thành công vào năm 19██. Tên lửa này nhanh chóng tiếp cận SCP-4220 trong vòng vài giờ sau khi phóng, rồi sau đó đã đâm thẳng xuống bề mặt Mặt Trăng (dẫn tới sự thiệt mạng của toàn bộ phi hành đoàn và khiến Parsons mắc kẹt lại bên trong tên lửa). Do Parsons đã từ chối chia sẻ những hiểu biết của mình về nhiều thành tố thiết yếu trong thiết kế của tên lửa này, Pentagram đã không thể xây dựng lại Helios 1 hay thu hồi tên lửa nói trên cho tới khi các nhiệm vụ Apollo (18 - 20) được triển khai. Các nhiệm vụ này cũng không thể thu hồi phần chóp nhọn của Helios 1.

Trong quá trình xây dựng Vùng Mặt trăng-100, nhân sự Tổ Chức đã tìm thấy thi thể của phi hành đoàn Helios 1 cùng với phần chóp nhọn của tên lửa (phần cấu trúc này đã bị Parsons ám). Phần chóp nhọn đã được gửi tới Điểm-42, nơi Đội Đặc nhiệm Cơ động Lambda-10 ("Đánh Thức Người Đã Chết") tiến hành một nghi thức để neo linh hồn của Parsons vào thể xác của một nhân sự Cấp-D. Ts. Russell Delvon là người phụ trách phỏng vấn Parsons thông qua D-15636.
GHI CHÚ: Những cuộc phỏng vấn sau có chứa các thông tin về Dự án Helios mà Tổ Chức đã biết; những thông tin này không thể được kiểm chứng do Pentagram đã từ chối xác nhận hay bác bỏ những thông tin mà Parsons đưa ra.

Về bản thân Parsons

Delvon: Thưa ngài Parsons, cảm ơn ngài vì đã tham gia nghi lễ của chúng tôi. Câu hỏi đầu tiên; ngài có thể chia sẻ chi tiết về cách mình xuất hiện trên Mặt Trăng không?

Parsons: Được rồi, cứ gọi tôi là Jack đi. Hoặc là Belarion Armillus al Dajjal - một kẻ bài xích Công giáo, tồn tại để thỏa mãn định luật mà Con Quái vật 666 đã đặt ra - nhưng mà tên Jack cũng được. Thế này nhé! Mục đích tới đó của đám người kia chính xác là thứ mà các anh đang nghĩ đến: Sự xuất hiện của Phe đỏ - trong không gian! Để lan tỏa cái ý thức hệ cộng sản không còn biết đến thần thánh là gì của chúng. Nhưng ngay cả chúng cũng không phải những kẻ đầu tiên tới được Mặt Trăng - chúng đã tìm thấy một kho silo nhân tạo kì quặc hay gì đó ở vùng trũng Nam Cực. Hoàn toàn bị bỏ hoang. Đó đương nhiên là một chuyện không thể chấp nhận nổi rồi. Vậy nên Pentagram đã thuê tôi vắt chân lên cổ xây cho họ một tên lửa để bay lên Mặt Trăng: chính là Helios 1 đấy.

Delvon: Được rồi, ờm, Jack. Cảm ơn ngài. Giờ thì -

Parsons: Tôi đéo quan tâm cái mẹ gì đến thứ 'quyền do Chúa trao cho' để 'ban phát dân chủ' trên Mặt Trăng của họ đâu. Hồi những năm 40, anh biết đấy, tôi và ông bạn cũ tên Ron của tôi5 đã thực hiện một loạt những nghi lễ nhục dục huyền bí mà chúng tôi tự gọi là Nghi thức Babalon. Chúng tôi đã triệu hồi một tinh linh của những nguyên tố tự nhiên và tìm cách để sinh con với cô ta. Chuyện đó đã thành công một nửa — chẳng có đứa trẻ nào tòi ra cả, và con chó đẻ đấy đã chơi trò đưa nhau đi trốn với Ron. Nhưng về sau, sau khi tôi bắt đầu làm việc với Pentagram trong dự án Helios 1, tôi đã nhận ra rằng: nhỡ đâu cô ta chỉ là một con điếm giả mạo thì sao? Allie6 còn từng gọi thứ mà chúng tôi cố gắng tạo ra khi đó là 'đứa con của Mặt Trăng' cơ mà. Nếu như tinh linh thực sự mà chúng tôi đã triệu hồi đang ở trên Mặt Trăng thì sao? Tôi nhất định phải tới đó!

Delvon: [vội vã ghi chép] Chờ chút, đợi đã - đợi đã - ờm, ngài đã tiếp tục theo đuổi dự án bởi vì ngài nghĩ rằng mình đã triệu hồi … một tinh linh của nhục dục trên Mặt Trăng?

Parsons: Tôi sẽ không gọi việc đó là "theo đuổi dự án" … không phải là như thế vào lúc này; gọi là "ăn bám" thì chính xác hơn đấy. Pentagram sẽ không để cho kỹ sư chính của họ lên tàu bay đâu — nhỡ đâu nó nổ tan tành thì sao? May mắn là tôi đã nhờ vả được Crowley bằng cách ám cô bồ khi ấy của anh ta. Anh ta đã giúp tôi bẻ cong những ràng buộc mà Pentagram áp đặt lên tôi. Nên là vậy đấy, theo như mong muốn của Crowley, tôi đã ám vào phần chóp nhọn của Helios 1 trong chuyến hành trình đầu tiên của nó! Mọi chuyện đều hoàn hảo… cho tới khi tên lửa đâm thẳng xuống Mặt Trăng. Nhưng chế tạo tên lửa là vậy mà! Sẽ có những lỗi lầm. Quan trọng là chúng ta học hỏi được điều gì từ những sai lầm ấy.

Về Helios 1

Delvon: Ngài có thể cho chúng tôi biết bất cứ điều gì về thiết kế của Helios 1 không? Cấu tạo của nó, cách thức nó tạo lực đẩy, chẳng hạn là như vậy?

Parsons: Helios 1 là một tên lửa đẩy thần học hạt nhân có động cơ - thần học hạt nhân, chúng tôi đã chế ra cái tên đó vào năm 59 đấy, nó còn có bằng sáng chế nữa - dựa trên mẫu thiết kế Teller-Ulam có khả năng tạo lực đẩy thần học hạt nhân theo chu kỳ để phục vụ việc phóng tên lửa. Một trong những sản phẩm tuyệt nhất của tôi, phải nói là như vậy. Helios đã sử dụng thần học hạt nhân và khoái năng7 - khoái năng cung cấp năng lượng cho hệ thống điều khiển tàu, nén chặt các linh hồn, và sạc năng lượng cho chúng để tiếp tục kích nổ về sau! Nói thực là tôi tự hào về điều này ra phết đấy - tôi đã thêm một hệ thống hai kênh dẫn truyền song song đặc biệt vào bộ khung của tên lửa, và thiết kế hình dạng của nó sao cho nó có thể kìm hãm được những mánh khóe phép màu nhục dục kì diệu này. Tôi có thể vẽ nó ra cho anh xem nếu như anh muốn.

Giấy và bút được cung cấp cho Parsons, và ông bắt đầu vẽ sơ đồ của Helios 1.

Delvon: Không phải đây là - đây là một cái dương vật mà?

Parsons: Không, đây chính xác là Helios 1 đấy! Dù sao tôi cũng mừng vì anh đã để ý đến thiết kế của nó - đây là kết quả của hàng bao nhiêu năm nghiên cứu về kiến trúc huyền bí học và điều khiển khoái năng của tôi. Anh thấy đấy, hình dạng của tên lửa này làm cho khoái năng có thể chảy từ đỉnh tên lửa, qua trục, rồi xuống phần đáy. Nhiên liệu thần học hạt nhân được trữ trong các bể ở đây [chỉ vào những khối tròn ở phần đáy của bản thiết kế], rồi sau đó chúng được rót dần vào khoang đáy và nén bằng khoái năng. Sau đó chúng sẽ được kích nổ, làm dịch chuyển tấm đẩy ở đây [chỉ vào giữa trục chính tên lửa trên bản thiết kế], điều đó làm cho tên lửa được đẩy về phía trước. Khoái năng dư thừa sẽ chảy về phía thành cách nhiệt của bình nhiên liệu, làm cho nhiên liệu chảy lại vào buồng; nhiên liệu đó sẽ được giữ lại và tái chế. Hoàn toàn không có khí thải, năng lượng sạch 100% - ờm, nếu chỉ nói về mặt năng lượng mà thôi. Như một phép màu!

Delvon: Đúng vậy, cho tới khi nó đâm xuống Mặt Trăng và vỡ tan tành. Ngài có biết điều gì đã gây ra sự việc này không? Phải chăng cơ chế nói trên đã bị phá hoại?

Parsons: À phải rồi, đúng thật là hết sức không may. Tôi không muốn gắn thêm tên lửa đẩy ngược chiều kiểu cũ vào đó, anh hiểu chứ? Quá nhiều năng lượng âm tính để giảm tốc và giảm chấn động. Thay vào đó, tên lửa đã được thiết kế sao cho khoái năng có thể được sử dụng để đảo ngược các cực của bộ phận đẩy - nhưng phi hành đoàn khi ấy lại hành động không đủ nhịp nhàng để dòng khoái cảm được ổn định!

Delvon: [ghi chép] Đợi đã, 'dòng khoái cảm' tác động như thế nào đến b -

Parsons: Vậy nên thay vì đổi hướng và giảm tốc từ từ rồi đáp xuống bề mặt Mặt Trăng, chúng tôi đã đâm thẳng vào đó. Nổ do chênh lệch áp suất - mấy người trên tàu khi ấy đều không hề mặc đồ bảo hộ. Ngọn lửa nhục dục chảy xuyên qua luân xa của họ khi ấy có lẽ cũng ra gì và này nọ phết đấy!

Về Năng lượng Thần học Hạt nhân

Parsons: Anh có thể nói tôi nghe một điều được không? Theo anh, đặc điểm huyền diệu nhất của linh hồn con người là gì?

Delvon: Hừm… Tôi không biết. Linh khí của chúng ta chăng?

Parsons: Mọi thứ! Ý chí bất khuất! Lòng kiên trì - lòng dũng cảm - khả năng thúc đẩy bản thân - thúc đẩy bản thân ta vượt khỏi những giới hạn, và chinh phục mọi tạo tác mà Chúa đã sinh ra! Lòng hiếu kì không thể lấp đầy, dục vọng không thể lấp đầy… điều huyền diệu nhất của linh hồn con người là nó không có điểm dừng. Và cả sự thật rằng nó có thể được chiết xuất thành một chất siêu lỏng đẳng năng với tác dụng tương tự như một nguồn năng lượng vĩnh cửu khi được kiểm soát đúng cách nữa.

Delvon: Ngài - Ngài có thể lặp lại đoạn cuối được không? Tôi nghĩ có lẽ mình vừa nghe nhầm.

Parsons: Linh hồn của chúng ta thực chất là một nguồn động năng, điện năng và nhiệt năng vô hạn. Vấn đề ở đây là năng lượng thì vô hạn, nhưng công suất đầu ra thực tế lại… quá nhỏ. Tuy nhiên chúng tôi đã khắc phục được chuyện đó rồi. Chúng tôi đã tìm ra cách để kích hoạt sự phân rã hạt nhân không phóng xạ của linh hồn, và thêm vào đó, một khi linh hồn đã được kích nổ, nó sẽ chuyển hóa thành một dạng chất siêu lỏng không còn khả năng phát nổ nữa. Như tôi đã nói đấy, ôi sự kiên định của linh hồn con người! Và cũng như tôi đã nói, khi tôi giao hoan với Quý cô Alexis Santana nọ trong một chiếc xe Oldsmobile năm 59, sự kiên định ấy đã biến hành động của tôi thành một nguồn năng lượng hoàn hảo cho một động cơ đẩy hạt nhân. Quả thật là chỉ có một điều duy nhất không đúng trong chuyện này thôi.

Delvon: Đợi đã - tạm bỏ qua chuyện giao hoan, thì không phải lúc đó ngài đã qua đời rồi sao? Tôi xin lỗi - ờm, quan trọng hơn là, có gì không đúng với -

Parsons: Tôi đã qua đời, nhưng Cô Santana thì không. Nhưng quay lại chủ đề chính: vấn đề duy nhất là anh sẽ cần rất nhiều linh hồn. Linh hồn cũng phải còn tươi; chỉ đến nghĩa trang và đào mộ thôi thì không được đâu. Linh hồn không ở lại lâu trong phạm vi gần với thể xác sau khi chết - ít nhất là đối với những người có cái chết không vui vẻ gì.

Về việc Tìm kiếm Linh hồn:

Parsons: Khi thuốc bắt đầu phát huy tác dụng, chúng tôi đang ở rìa vùng New Echota.

Delvon: New Echota… Georgia? Điểm khởi đầu của Con đường Nước mắt. Chuyện đó thì liên quan gì đến…

Parsons: Tiến sĩ Delvon, tôi thấy anh có một linh hồn rộng lớn bao la đấy. Khi anh tìm kiếm những linh hồn với cuộc đời còn dang dở trên đất Mỹ này, những linh hồn chết trong đau đớn hay muốn phục thù cho gia đình mình, anh sẽ tìm đến những ai?

Delvon: …Người Mỹ bản địa.

Parsons: Chính xác! Tất cả những hận thù dồn nén đó sẽ tạo thành một nguồn năng lượng hết sảy. Tôi và vài tên đồng bọn cùng làm việc trong phòng thí nghiệm đã lên đường đi khắp miền Nam nước Mỹ trong năm 59. Chúng tôi đi săn ma, theo dấu Con đường Nước mắt xuyên ngang qua đất nước này - và tôi phải nói rằng đó là điều tuyệt nhất tôi từng trải qua sau khi lìa đời! Dừng lại ở một thành phố nhỏ nước Mỹ, hút một vườn cần, đong đưa với mấy cô nàng dân địa phương, đưa mấy em đến nghĩa trang gần nhất để làm vài việc báng bổ nếu như anh hiểu ý tôi là gì, rồi hút lấy những linh hồn hiện lên ở đó. Vui hết nấc!

Delvon: Ngài Parsons - Jack, tôi phải nói rằng bản thân tôi thấy những hành động đó hết sức đáng trách.

Parsons: Cái gì cơ, quần nhau trong nghĩa địa ấy à? Có gì đâu mà rộn, tôi cũng là vong, và tôi thấy chuyện đó bình thường. Còn nếu ý anh là sự bóc lột có hệ thống và có chủ đích nhắm đến người Cherokee kể cả sau khi họ đã qua đời… thế anh muốn tôi phải nói cái quái gì đây?

Parsons đứng dậy và chống tay lên bàn thờ nơi tiến hành nghi thức.

Parsons: Hãy làm bất cứ điều gì để ngăn chặn 'sự bành trướng dã man của chủ nghĩa cộng sản', cấp trên đã nói thế rồi. Tôi đáp lại rằng, chắc hẳn phải có một cách thức nào tốt hơn, như kiểu giết vài triệu con chuột chẳng hạn; không phải những con người đó đã chịu đựng quá đủ rồi hay sao? Nhưng anh biết quân đội là như thế nào mà. Quân đội, họ muốn gì được nấy. Nên tôi đã nghĩ rằng tôi cũng nên tận hưởng chuyện này thôi, vậy có được không? Anh nghĩ tôi có thể chống lại họ sao? Tôi cũng là nạn nhân y như những người Cherokee đó mà thôi!

Delvon: Tôi xin lỗi, Jack. Tôi không có ý ám chỉ rằng lỗi là của ngài. Vậy ngài đã, e hèm, 'hút lấy' những linh hồn đó như thế nào?

Parsons: Bí mật quân sự. Những ràng buộc mà lũ khốn đó áp đặt lên tôi đã cũ lắm rồi, nhưng đôi khi chúng vẫn phần nào có tác dụng. Tôi có thể tiết lộ với anh rằng chuyện này không liên quan gì đến bất cứ cái máy hút nào cả, nhưng có dính dáng đến khoái năng. Nếu không thì anh nghĩ tôi nhắc đến chuyện quần nhau để làm gì? Tôi và Crowley còn từng nghĩ ra được bao nhiêu thứ hay ho chúng tôi có thể làm với chuyện ấy rồi kia mà, ví dụ như tạo ra một nữ thần mặt trăng hay chiết xuất linh hồn con người từ dưới lòng đất chẳng hạn, và khi Pentagram xới tung mộ tôi lên, nói sao nhỉ… họ biết cách để ép cung người khác.

Về việc Bị mắc kẹt

Delvon: Ngài có thể kể cho tôi bất cứ điều gì về khoảng thời gian ngài ở trên Mặt Trăng, từ khi Helios 1 phát nổ cho tới khi chúng tôi tìm thấy ngài hay không?

Parsons: Lúc đầu tôi bực chứ - mọi thứ tôi làm trước đó đều xôi hỏng bỏng không chỉ vì khoái cảm của phi hành đoàn không đủ dồi dào! Nhưng tôi cố chịu đựng. Khoái năng cạn khỏi đống đổ nát nhanh hơn tôi mong muốn, nói thật là vậy, nhưng trước sau gì khoảng thời gian sau khi chết của tôi cũng đã thật huy hoàng rồi. Thực sự đấy, sự chán nản chính là kẻ thù lớn nhất. Tôi có dành một ít thời gian để viết kịch bản và đóng kịch với phi hành đoàn. Tôi đã phát điên lên trong khoảng… mười năm? Hai mươi năm? Khi não bộ anh bị bó hẹp lại trong một phạm vi bí bách, anh sẽ mất đi cảm giác về dòng chảy của thời gian - nhưng rồi anh sẽ chán nản điều đó và tỉnh táo trở lại mà thôi.

Delvon: Vậy nên ngài đã từ bỏ nhiệm vụ ban đầu.

Parsons: Tôi đang cảm thấy bị xúc phạm đấy - sau khi tôi tỉnh táo trở lại, tôi đã quay lại với công việc mà! Anh có tin nổi rằng sau ngần ấy năm mà tôi vẫn còn bị kẹt trong phần chóp nhọn của cái tên lửa đó không? Nhiều lúc tôi cũng vô cùng thán phục bản thân mình. Vậy nên tôi đã săn tìm xung quanh, và thực tế là tôi đã tái phát hiện những cấu trúc mà chúng tôi cần tìm thấy trong nhiệm vụ ban đầu của mình, ở vùng trũng Nam Cực-Aitken ấy.

Parsons ngừng nói và chăm chăm nhìn vào một khoảng không vô định. Ts. Delvon đã cố gắng làm ông tỉnh tảo trở lại trong vòng một phút nhưng không thành công.

Delvon: Jack? Ngài ổn không?

Parsons: Tôi đã xuống dưới đó.

Delvon: Nơi nào cơ?

Parsons: Tôi đã hiểu tại sao anh lại có thể nhìn thấy tôi rồi.

Parsons nắm lấy vai Ts. Delvon.

Parsons: Đó là một nấm mồ. Bên dưới đó có một con người - một thực thể, một bóng ma, tôi không biết nữa - có thứ gì đó nằm bên dưới; nơi đó bị chia ra thành nhiều mảnh, và mỗi mảnh ghép lại được đặt trong một lồng khóa kín. Nhưng tôi đã nhìn thấy những mảnh ghép ấy - và chúng đã nhìn thấy tôi.

Một lính gác bước về phía trước và bắn Parsons bằng súng gây mê. Dù rằng linh hồn của Parsons đã bị neo chặt trong thể xác D-15, các mũi tên gây mê vẫn có tác dụng chậm.

Parsons: Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra - hoặc là nó tự trồi lên, hoặc là Nữ thần Mặt Trăng đã từ chối nhận lấy nó. Nhưng đó vốn dĩ đã là thứ mà không ai nên thấy rồi. Chúng ta không phải những người đầu tiên lên Mặt Trăng - thế nhưng đáng lẽ chúng ta nên là những người cuối cùng.

Ở thời điểm này, thuốc mê bắt đầu phát huy tác dụng. Parsons dần mất tri giác. Nghi thức đã được kết thúc.

Phụ lục 4220.3: Luna

Trái ngược với việc Hợp chúng quốc Hoa Kỳ thành lập một dự án thám hiểm vũ trụ riêng biệt, Liên bang Xô Viết chỉ tiến hành sử dụng công nghệ dị thường nhằm mở rộng dự án Luna đã được thực hiện từ trước, với sự trợ giúp của [DỮ LIỆU BỊ XÓA - YÊU CẦU QUYỀN TRUY CẬP AN NINH CẤP 5]. Sự bổ sung nói trên đã cho phép họ thực hiện nhiều nhiệm vụ đưa con người vào bên trong SCP-4220-1. Dù vậy, dự án Luna đã đột ngột bị chấm dứt mà không có lời giải thích chính thức nào được đưa ra; khả năng cao mục đích của việc này là để tiến hành quản thúc SCP-4220-1.

Các thư từ sau đây đã được phát hiện tại tư gia của Giáo sư Damian Kravchuk, một đồng nghiệp của Giáo sư Christov Alexeyev. Giáo sư Alexeyev là Trưởng Dự án của dự án Luna (một phần trong chương trình hoạt động vũ trụ của Liên Xô) từ năm 1958 tới năm 1965. Mọi tài liệu dưới đây đều được dịch từ bản gốc bằng tiếng Nga.

Điều này quả thực là không may, nhưng việc chúng tôi mất Mechta bé nhỏ8 chỉ là một trở ngại tạm thời thôi, tôi đảm bảo. Số người biết được điều tôi sắp nói với anh chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay mà thôi. Vậy nên tôi tin rằng anh sẽ hiểu sức nặng của những lời tôi đang định nói.

Khi lũ người Mỹ đang bị 'Rasputin' bé nhỏ9 của chúng làm cho mê muội, chúng tôi đã tìm thấy một hướng tiếp cận thực tế hơn và đáng để tin cậy. Khó khăn lớn nhất trong việc đưa con người vào vũ trụ từ trước đến giờ vẫn luôn là đảm bảo cho các phi hành gia trở về an toàn và lành lặn. Hết hệ thống này đến hệ thống khác đã ra đời để phục vụ cho công cuộc bảo vệ và giữ gìn sức khỏe của họ, và mỗi hệ thống trong số đó đều khiến cho sự phức tạp của nhiệm vụ tăng lên gấp bội.

Vậy nhưng sẽ ra sao nếu an nguy của họ không phải là điều ta cần quan tâm?

Đại úy Dorofeyev10 đã cung cấp cho chúng tôi đối tượng tham gia điều khiển đầu tiên. Anh ấy chỉ gọi con bé là 'Tám Mươi Hai'. Con bé là một đứa con gái béo phì mười bốn tuổi, ăn nói nhát gừng, người ngợm hôi hám và đầu trọc lốc.

Đối tượng thử nghiệm là một tử tù. Chúng tôi đã tiêm cho anh ta một mũi propofol với liều lượng chết người. Dù rằng tôi đã làm hết sức trong khả năng của mình để đảm bảo sự thoải mái cho anh ta, quy trình ấy vẫn khiến nhiều người trong chúng tôi thấy ghê tởm đến buồn nôn. Lukyan đã bí mật thú nhận với tôi rằng anh ấy cảm thấy mình chẳng khác nào một tên lang băm chỉ biết khua môi múa mép; rằng anh ấy chỉ tựa như một thầy bói La Mã cổ, rạch bụng những con bò xạ hương và vờ như mình nhìn thấy tương lai in trên những bộ lòng vẫn còn tỏa ra hơi ấm. Nhưng tôi đã trấn an anh ấy rằng thứ 'ma thuật' của chúng ta chẳng có gì là hư ảo rồi.

Hai mươi phút sau khi chết, cái xác ngồi thẳng dậy. Chúng tôi đã kiểm tra; không có mạch đập, không có hô hấp. Xác lạnh. Tám Mươi Hai đã thành công trong việc khiến nó đi đứng và tương tác với nhiều vật thể trong phòng, dù cách nó đi lại chẳng khác nào một kẻ đang say khướt.

Nhưng bất kể tình trạng của cái xác có thế nào, nó vẫn không thể đứng vững được sau vài giờ. Điều này quả là không may; khoảng thời gian có thể chủ động làm việc của chúng tôi đã bị giới hạn lại rõ rệt. Kết cấu ăng-ten vì vậy cũng sẽ cần được chèn vào cơ thể anh ta một cách cẩn trọng thông qua phẫu thuật. Thuốc gây co cứng cơ mạnh sẽ được dùng để đảm bảo rằng cơ sử dụng rất ít oxy và không gây ảnh hưởng đến tên lửa trong quá trình vận chuyển. Quá trình va đập vào bề mặt Mặt Trăng — cùng với sự giảm áp ngay sau đó — sẽ hoàn tất nốt phần việc còn lại.

Đại úy Dorofeyev đã đưa đối tượng thử nghiệm đến chỗ chúng tôi ngày hôm qua. Chính tay tôi đã đưa nó vào bên trong người chị em của Mechta,11 tuy nhiên trước đó tôi đã không quên cân lại đối tượng. Anh ta nhẹ hơn khi trước khoảng một pound. Tay tôi khi ấy dính đầy bụi phấn; chúng tôi đã dành cả đêm ấy để điều chỉnh lại những tính toán sao cho phù hợp với sự hao hụt trọng lượng này.

Người đầu tiên bước đi trên Mặt Trăng sẽ là một người Nga Xô Viết. Lịch sử sẽ không màng đến chuyện liệu anh ta có còn sống hay không.

Chúng tôi đã tìm thấy cấu trúc đó. Nhưng chẳng có thứ gì trong đó hợp với lẽ thường.

Đó là một tòa nhà văn phòng. Một tòa nhà văn phòng trong lòng Mặt Trăng, Damian.

Phần bên trong của cấu trúc này được điều áp; ở đó, những bàn tay đồng thau được gắn với những bàn giấy đồng thau, gõ liên hồi trên những máy đánh chữ đồng thau. Những đôi giày đồng thau giậm trên sàn nhà mà chẳng có ai xỏ chân vào chúng cả. Tất cả chúng đều được nối lại với nhau bằng ống dẫn đồng thau, và xoay quanh một cầu thang xoắn đồng thau.

Chúng tôi đã đưa nhiều cái xác điều khiển được vào bên trong cấu trúc đó, nhưng đều mất tín hiệu trước khi có thể khám phá sâu hơn. Chúng tôi cần phải đưa người sống vào bên trong — việc này chỉ đơn giản là không thể — hoặc tìm một cách nào đó để những cái xác giữ được lâu hơn nữa.

Cơ sở của tôi giờ chỉ toàn những con người mà tôi không quen biết, hỏi tôi những câu hỏi mà tôi không thể trả lời. Trên Bộ đã điều xuống một 'chuyên gia bí thuật' để hỗ trợ chúng tôi — một tên đáng ghét, kinh tởm, người đầy mùi tỏi và chỉ biết nói tiếng Nga nhát gừng. Đại úy Dorofeyev đã chứng thực kỹ nghệ của hắn ta. Hắn ta đã cho thấy khả năng tạm ngừng hoạt động sống bằng cách sử dụng thần chú, tự thôi miên, và một hỗn hợp thuốc cao bốc mùi hôi thối mà hắn ta tự chế. Chính tôi đã xác nhận rằng mọi chức năng sống của hắn đã dừng lại; vài giờ sau, hắn tỉnh dậy — hoàn toàn khỏe mạnh bình thường.

Hắn đồng ý dạy cho chúng tôi phương pháp của mình với một điều kiện. Hắn chỉ có một mong muốn duy nhất, rằng chúng tôi sẽ đưa hắn lên Mặt Trăng.

Ở đó, hắn tin rằng có ai đó đang đợi chờ mình.

Ngoài những lúc con người bí ẩn kia dạy cho chúng tôi cách đối đầu với cái chết, hắn thường thực hiện những 'nghi thức' kì quái và ngu ngốc nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh lý kì quặc của bản thân mình.

Vậy nhưng cách thức của hắn đã đem lại kết quả khả quan: Tám Mươi Hai đã điều khiển được một trong số những đối tượng bị tạm ngừng chức năng sống suốt mười lăm tiếng đồng hồ trước khi con bé phải ngắt kết nối. Đối tượng thử nghiệm đã hồi tỉnh, và tình trạng sức khỏe của anh ta tương đối ổn (dù anh ta đã có biểu hiện căng thẳng khi thấy được hệ thống ăng-ten gắn trên cơ thể mình). Chúng tôi vẫn còn nhiều kế hoạch thử nghiệm khác để đảm bảo sẽ không có tình huống phức tạp nào xảy ra, tuy nhiên tôi đoán rằng đến cuối tháng này, chúng tôi sẽ sẵn sàng.

Đối tượng thử nghiệm bằng phương pháp tạm ngừng chức năng sống đầu tiên của chúng tôi đã thâm nhập thành công vào bên trong cấu trúc này, và đi được tới đáy cầu thang. Ở đó, chúng tôi đã phát hiện một ống thông hơi nơi tất cả các ống con kia hợp lại; ống thông hơi ấy còn đi sâu vào trong lòng Mặt Trăng hơn nữa. Có một thang đo được gắn trên ống lớn này. Một từ tiếng Anh được ghi bên trên thang đo ấy; chúng tôi đã đọc được rằng từ đó nghĩa là 'MỨC ĐỘ TẠP NHIỄM'. Kết quả đo là hai mươi lăm. Không ai trong chúng tôi biết điều đó nghĩa là gì.

Trong khi điều khiển đối tượng thử nghiệm, Tám Mươi Hai báo cáo rằng thang đo đã nhảy lên mức ba mươi. Dorofeyev đã yêu cầu chúng tôi tiếp tục khám phá nơi này. Mong rằng chúng tôi sẽ tìm được vài manh mối chỉ ra mục đích tồn tại của nó, tôi hy vọng vậy.

Tám Mươi Hai có vẻ sợ khi quan sát thấy ống dẫn đó tiếp tục đi sâu vào bên trong Mặt Trăng. Trước khi con bé ngắt kết nối, nó đã phàn nàn về mùi hôi thối bốc lên từ dưới đó.

Dorofeyev đã chỉ định tôi quan sát những nghi thức tởm lợm của kẻ bí ẩn kia. Anh ấy nghi ngờ rằng hắn ta còn đang giấu giếm chúng tôi nhiều điều bí mật. Những khi hắn làm việc, hắn thường nhìn tôi và nở một nụ cười gian xảo.

Ngày hôm qua, hắn ta dùng phấn vẽ hình một người phụ nữ lên sàn nhà, rồi làm những chuyện báng bổ với hình vẽ ấy. Xong xuôi, hắn nói rằng mình đã mở ra một cánh cổng dẫn hắn tới chỗ vị nữ thần của mình — Babalon. Một tiếng sau, Tám Mươi Hai kết nối lại với đối tượng mà chúng tôi điều khiển và nhận thấy rằng thang đo MỨC ĐỘ TẠP NHIỄM đang ở số năm mươi. Nhiều ống dẫn đã phát nổ, phá hủy những máy đánh chữ nối liền với chúng. Một thứ khói đen phủ kín bên trong kho silo. Thứ đó đã làm da của đối tượng đông cứng lại như nhựa đường.

Tôi muốn coi chuyện này là một sự trùng hợp, nhưng tôi đã biết nhiều hơn thế mất rồi.

Những ống dẫn đã tự nối liền lại với nhau, bằng một cách mà tôi không rõ — như thể chúng chưa từng phát nổ. Làn khói đã biến mất. Thang đo MỨC ĐỘ TẠP NHIỄM dừng lại ở con số sáu mươi lăm, và bên trong kho silo vô cùng nhộn nhịp. Tiếng máy đánh chữ nổ ran như tiếng súng Kalashnikov — những ngón tay đồng thau gõ lách cách trên bàn phím nhòe cả đi trong mắt người quan sát của chúng tôi. Những đôi giày đi qua đi lại nhanh đến độ đối tượng của chúng tôi đã vấp phải chúng không biết là bao nhiêu lần.

Tám Mươi Hai sợ chết khiếp. Chúng tôi phải ép con bé tiếp tục đi sâu hơn vào trong kho silo. Nhưng kể cả vậy, con bé vẫn đi chậm đến nỗi đối tượng thử nghiệm đã gục ngã trước khi chúng tôi xuống đến tầng cuối cùng.

Trong suốt thời gian những chuyện này diễn ra, kẻ bí ẩn kia vẫn cứ tiếp tục những nghi thức hèn hạ của hắn. Ngoài những lúc giao hợp với sàn nhà, hắn thường ngồi khoanh chân bên trong một hình lục giác hắn tự vẽ ra, lảm nhảm đầy hả hê bằng tiếng Anh như thể đang nói chuyện với một kẻ nào vắng mặt. Dorofeyev nhất quyết không kể tôi nghe rằng hắn đã nói gì.

Sau khi sử dụng thêm hai đối tượng nữa, cuối cùng chúng tôi cũng vào được bên trong ống dẫn. Ở đó, Tám Mươi Hai đã phải điều khiển người quan sát rất vất vả — tôi không biết anh ta đã trượt theo ống dẫn được khoảng cách bao xa. Lúc đối tượng xuống đến đáy ống, gần như toàn bộ da thịt anh ta đã rách tươm rồi.

Bên trong Mặt Trăng chỉ toàn là những căn buồng xây bằng kính có hình dạng khối mười hai mặt đều hoàn hảo; mỗi buồng đều được treo lơ lửng trên một lưới kim loại đan xen vào nhau và kéo dài mãi đến tận hư vô. Chẳng ai có cách nào biết được cấu trúc ấy còn tỏa rộng đến thế nào.

Mỗi buồng lại được nối với bốn buồng khác bằng những cửa sập màu đồng ở các góc buồng. Ống dẫn lớn kia được chia thành nhiều ống nhỏ đi xuyên qua những căn buồng ấy. Thân thể của đối tượng mà chúng tôi điều khiển đã quá tan nát trước khi chúng tôi kịp khám phá những ống kim loại này; bầu không khí ở dưới đó còn tệ hơn trong kho silo. Sau khi Tám Mươi Hai ngắt kết nối, chúng tôi quan sát thấy da con bé đã trở nên nhầy nhụa. Người con bé vẫn bốc mùi hôi kể cả khi nó đã tắm rửa nhiều lần.

Mặt Trăng rỗng bên trong đấy, Damian. Không những thế, nó còn là nhân tạo. Chuyện này làm đầu óc chúng tôi bối rối. Ai đã xây nên nó? Vì lý do gì? Những ống rỗng đó dẫn tới đâu? Trên Bộ có biết chuyện này không?

Anh nên giấu những lá thư này ở nơi nào đó an toàn đi. Nếu như có chuyện không may, chúng ta vẫn cần có cái gì đó ghi lại chuyện này.

Vẫn còn những câu hỏi nữa. Chúng tôi đã cho một đối tượng mặc đồ bảo hộ; Tám Mươi Hai đã hướng dẫn anh ta thiết lập máy quay để ghi lại hình ảnh của những máy đánh chữ, và gắn một máy quay khác vào thang đo MỨC ĐỘ TẠP NHIỄM. Thang đo đang ở mức sáu mươi. Sự xuất hiện của những cái xác trước đây đã dẫn đến kết quả này chăng? Có lẽ vậy. Thân thể chúng chẳng còn lại gì ngoài một hỗn hợp đen ngòm sôi sùng sục. Ngay chính bầu không khí ở đây đã có tính ăn mòn rồi.

Tám Mươi Hai đã vào đến bên trong các buồng xây bằng kính. Một số buồng chứa những lồng kính có hình dạng như cơ quan nội tạng của con người — mắt, phổi, gan, dạ dày — được lấp đầy bằng khói đen. Chúng nối với những ống dẫn, bơm khói vào trong lòng Mặt Trăng. Tám Mươi Hai còn để ý thấy có những buồng khác nằm đơn lẻ, treo lơ lửng bên trên lưới kim loại. Chúng không nối liền với bất cứ thứ gì, nhưng chứa đầy thứ khói đen ấy. Một số buồng còn đập và rung theo nhịp.

Chúng tôi đều cảm thấy khó chịu trong người. Cảm giác ấy như thể chúng tôi đang đi dạo quanh kho báu của một con rồng ngay bên dưới tầm mắt nó.

Kẻ kì lạ kia đã biết về phức hợp này rồi. Thông qua Tám Mươi Hai, khả năng cao là vậy. Giờ đây hai con người đó đã không thể tách rời. Hắn đang ba hoa rằng nơi này chính là nơi vị nữ thần của hắn an nghỉ — trong tình trạng thân thể bị xé nát, hắn cho là vậy, thông qua một nghi lễ thất bại của đồ đệ hắn. Hắn tự nhận rằng mình đã dạy cho tên Rasputin của lũ người Mỹ tất cả những gì hắn biết. Những nghi thức của hắn mỗi ngày lại một thêm trụy lạc. May thay, Dorofeyev đã chuyển tôi sang công việc liên quan đến cơ học quỹ đạo.

Hôm nay chúng tôi bắt gặp kẻ bí ẩn kia và Tám Mươi Hai trong khi họ đang ở cùng nhau. Hắn ta đã ép con bé tham gia vào một trong những nghi thức của mình.

Một người trong số chúng tôi đã định bắn chết hắn ngay tại trận. Nhưng những người có cái đầu lạnh hơn đã ngăn anh ấy lại. Hắn ta đã không còn hữu dụng nữa rồi; việc chúng tôi cần làm khi ấy chỉ là hoàn thành nghĩa vụ của mình đúng theo thỏa thuận mà thôi.

Tôi đã được nghe kể rằng các bác sĩ phẫu thuật đã không gây mê cho hắn trước khi cấy ghép những cấu trúc cần thiết. Tôi chỉ được kiểm tra hắn sau khi phẫu thuật, khi hắn đã ngủ mê mệt rồi. Đến tận bây giờ, vẻ mặt của hắn vẫn khiến tôi ám ảnh — cái nụ cười đông cứng kinh tởm của hắn khi chúng tôi đưa hắn vào bên trong khoang để chuẩn bị phóng đi.

Hắn muốn gặp được 'nữ thần' của mình sao? Cứ vậy đi.

Chỉ còn Chúa mới cứu được chúng tôi mà thôi.

Ngay sau khi hắn tỉnh lại bên trong kho silo, kẻ kì dị kia đã giật bộ ăng-ten ra khỏi hộp sọ hắn. Hắn không chảy máu — hắn xì khói ra. Khói đen trào ra từ trong óc hắn. Tám Mươi Hai không thể nào điều khiển hắn nữa; con bé đã ngất đi. Nhựa đường rỉ ra từ da con bé.

Dorofeyev đã dự trù trước khả năng này. Máy quay gắn trên thang đo đã được nối với một thiết bị nổ có thể kích hoạt từ xa. Anh ấy mất hàng phút liền để chứng thực quyền hạn an ninh; trong lúc ấy, chúng tôi chẳng thể làm gì ngoài việc đứng nhìn kẻ kì dị kia trôi xuống theo ống dẫn. Không lâu sau khi hắn biến mất, Dorofeyev gửi tín hiệu kích nổ — chúng tôi bị ngắt kết nối. Tôi khá chắc rằng ống dẫn này đã bị bịt lại sau vụ nổ. Hình ảnh cuối cùng mà chúng tôi thu được là thang đo đang ở mức bảy mươi lăm. Con số ấy vẫn đang tăng.

Kế hoạch Luna đã bị hủy. Chúng ta sẽ không quay lại Mặt Trăng thêm bất cứ một lần nào nữa.

Hãy đốt sạch những lá thư này đi.

Phụ lục 4220.4: Thỏa thuận Hợp tác Quản thúc

Trong quá trình đàm phán Hiệp ước Ngừng phát triển Vũ khí Dị thường năm 1963, cả Đơn vị GRU "P" và Pentagram đã tiến hành nhiều thỏa thuận bí mật liên quan tới việc quản thúc SCP-4220 ngoài tầm hiểu biết công khai của Tổ Chức. Đoạn ghi âm sau đã được các thiết bị thu âm bí mật của Tổ Chức ghi lại, tuy nhiên do thiếu sót trong quản lý hành chính và tình trạng rối loạn nội bộ về mặt chính trị, tầm quan trọng của đoạn ghi âm đã không được nhận định đúng và nó đã bị lãng quên trong quá trình lưu trữ cho tới khi SCP-4220 được phát hiện.

Tài liệu Phiên dịch Ghi âm Nội bộ
Thành phần Tham dự:

  • Giám đốc Pentagram Edward Teller
  • Tổng Giám đốc NASA James E. Webb
  • Đại diện Đơn vị GRU "P" Victor Dorofeyev
  • Kỹ sư Liên bang Xô Viết (USSR) Valentin12
    [GRU] Đại diện Dorofeyev: Phải rồi. Chúng ta có một vấn đề liên quan tới Mặt Trăng.
    [PEN] Giám đốc Teller: Đúng vậy.
    [NASA] Tổng Giám đốc Webb: Xin thứ lỗi? Tôi - xin thứ lỗi, tôi đang không theo kịp cuộc nói chuyện của chúng ta. Tôi vẫn - à, tôi vẫn đang không hiểu cuộc họp này có mục đích gì. Tôi không nghĩ tôi từng gặp ông, thưa Ông…
    Dorofeyev: Ông có thể gọi tôi là Victor. Đồng nghiệp của tôi là Valentin. Giám đốc Teller, mời ông?
    Teller: Được rồi. Tôi sẽ đi thẳng vào vấn đề nhé. Trời ạ, tôi không muốn phải tiết lộ điều này với các ông, nhưng các ông sẽ KHÔNG thể lên Mặt Trăng nữa đâu.
    Webb: Cái - cái gì thế này? Ông đang đùa tôi phải không?
    Teller: Tôi xin lỗi, James - nhưng đây là chuyện sống chết đấy. Mặt Trăng ư, không được nữa rồi. Hoàn toàn nằm ngoài khả năng của chúng ta. Chúng ta không thể, à không, không được phép đưa bất cứ ai lên đó nữa.
    Dorofeyev: Nhưng chúng ta không thể không đưa ai lên Mặt Trăng. Như thế chẳng khác nào tự đào huyệt chôn mình về mặt chính trị.
    [USSR] Valentin: Vậy thì, rốt cuộc chúng ta có định đưa người lên Mặt Trăng hay không đây?

Im lặng.
Dorofeyev, Teller đồng thanh: Có.
Dorofeyev: Mạo nhận việc hạ cánh xuống Mặt Trăng.
Teller: Để cho rõ ràng hơn thì, cuộc đổ bộ sẽ không được làm giả - chúng ta sẽ chỉ đơn giản là sử dụng một Mặt Trăng giả mạo.
Webb: Mặt Trăng - Mặt Trăng giả mạo? Anh đang định làm cái quái gì vậy chứ?
Dorofeyev: Mong ông im lặng và lắng nghe.
Teller: Làm ơn đi, James. Anh không biết khẩu hiệu của Hội Nam Hướng đạo sao? Hãy luôn chuẩn bị sẵn sàng. Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã có một kế hoạch phục vụ việc hạ cánh xuống Mặt Trăng trong trường hợp chúng ta không thể thực sự làm việc đó từ cả chục năm nay rồi. Khi tôi nói rằng chúng ta có phương án dự phòng, anh hãy tin tôi đi. Tất cả những gì anh cần làm bây giờ là tiếp tục chế tạo tên lửa, và chỉ đạo quân của anh bay tới bất cứ nơi nào chúng tôi yêu cầu anh.
Webb: Nhưng - nhưng - nhưng - nhưng tại sao? Tại sao chúng ta lại phải làm tất cả những chuyện này? Có gì không ổn với Mặt Trăng hay sao?

Có tiếng nhấn nút trên máy chiếu.
[USSR] Valentin: Bozhe moi!
Dorofeyev: Đó là nửa tối của Mặt Trăng.

Webb: Ôi Chúa ơi! Cái quái gì - có phải đó là một khuôn mặt hay không vậy?
Valentin: Không. Đó là một khuôn mặt. Nhưng của ai vậy?
Teller: Chúng tôi tin rằng - à không, chúng tôi nghi ngờ rằng -
Dorofeyev: Đây là khuôn mặt của Aleister Crowley.
Valentin: Cái vẻ mặt đó là sao?
Teller: Ý ông là biểu cảm ư? Vậy thì, ờm… tôi không muốn phải tỏ ra thô tục, nhưng -
Dorofeyev: Ông ta đang lên đỉnh.

[KẾT THÚC BẢN GHI]


Unless otherwise stated, the content of this page is licensed under Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License.